QUÊ HƯƠNG MẾN YÊU

LÀNG TÔI

Đôi lời giới thiệu Tôi sinh ra và lớn lên tại làng Phù Lưu, Phủ Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh, Bắc Việt (nay gọi là Thôn Phù Lưu, Xã Tân Hồng). Phù Lưu cách HàNội 19 cây số về phía Đông Bắc, nằm ngay ven Quốc Lộ 1, dẫn tới các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn và Ải Nam Quan.
Tôi xa quê hương đất nước đã hơn 30 năm, nhưng xa nơi chôn rau (nhau) cắt rốn, rời bỏ mồ mả Ông Bà, Tổ Tiên, từ năm 1945 tời nay thì đã hơn 60 năm. Với thời gian dài quá nửa thế kỷ như vậy, nếu quý đồng hương đã có dịp về thăm ít nhất một lần, thì nỗi nhớ nhung cũng phần nào khuây khoả. Riêng tôi, vì lý do tuổi già sức yếu, nay đã ngoài 80, nên không thể nào về được, tôi càng cảm thấy tình quê hương thật đâm đà thắm thiết. Nhớ nhung, khắc khoải, luôn luôn quẩn quanh trong đầu, trong óc, trong tâm khảm tôi, không lúc nào nguôi. Nhất là những đêm không ngủ, trằn trọc thâu canh, nghĩ lan man, nhớ từ căn nhà nhỏ xinh xinh, nởi tôi được sinh ra, với bao nâng niu trìu mến của Ông Bà, Cha Mẹ, khi còn ở tuổi ấu thơ. Tới cái cổng đầu làng, đến cây đa, cây đề (còn gọi là bồ đề) ở sân đình, kể cả nhửng đường ngang ngõ tắt, dẫn vào từng xóm từng nhà, nay hình dung lại mới thấy nó thật dễ mến đễ thương, đáng trân đáng quý.
Nhân có người bà con vừa về thăm quê nhà, tôi chợt có ý giới thiệu đến quý đồng hương vài nét về làng Phù Lưu, qua mấy tấm hình mới chụp. Song song với nhửng kỷ niệm thân thương, về nếp sống cũng như sinh hoạt cuả người dân Phù Lưu xưa kia, khi tôi còn ở trong làng, trước biến cố cái mà người ta gọi là Cách mạng tháng Tám. Tuy những gì được trình bày dưới đây, đã chìm sâu trong quá khứ, nhưng thiết tưởng cũng có thể nói lên một số dữ kiện, mà quý đồng hương, nhất là các em, các cháu gốc Phù Lưu, thuộc thế hệ sau, dù còn ở lại trong làng, trong nước, hay theo gia đình định cư ở hải ngoại, chưa thấy hoặc chưa nghe nói tới, ngõ hầu giúp cho các em, các cháu, hiểu biết thêm về quê hương bản quán của mình. Chẳng hạn như các câu vè dưới đây, thờì gian sau này, mấy ai còn được nghe nhắc tới nữa:

“Trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Đình Bảng Phù
Lưu”
Nhưng cũng có nơi nói:
“Trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Lim”
Hoặc:
“Vật giao Phù Lưu hữu
Vật thú Đình Bảng thê
Vật thực Cẩm Giang kê
Vật ẩm Đồng Kỵ tửu”

Vài nét đại cương về Làng Phù Lưu Vị trí:
Phía Đông: gần với làng Lã, làng Dương Lôi tức Đình Sấm, có đường đi tới Hoài Bão tên nôm là Chè, nơi có Núi Chè. Xa hơn, tới Chùa Phật Tích, Chùa Bách Môn.
Phía Đông Bắc: có Làng Tam Sơn, Tiêu Sơn (Tiêu), Lũng Giang (Lim), Nội Duệ, Hồi Quan. Bắc: Băng ngang Quốc lộ 1 và đường xe lửa, có đường dẫn tới Làng Đồng Kỵ (Cời), Phù Khê, Hương Mạc (Me). Phía Tây Bắc: gần Trang Liệt (Sặt hay Rừng Sặt), Trịnh Xá (Trịnh), Đa hội.
Tây: giáp làng Đình Bảng (Báng), Chùa Dận, Đền Đô, Đại đình (Luốn).
Nam: Phù Chẩn (Cháy), trên đường đi tới Làng Phù Đổng (Gióng).
Theo truyền thống, tại miền quê Bắc Việt, gần như làng nào cũng có 2 tên gọi: tên chính và tên nôm. Chẳng hạn như Báng là tên nôm làng Đình Bảng, Cời là của Đồng Kỵ, hay của Lũng giang là Lim… (những tên trong dấu ngoặc đơn là tên nôm).
Phù Lưu có nhiều ngả đường dẫn tới các danh lam thắmg cảnh ở rải rác trong phạm vi Phủ Từ Sơn và Huyện Tiên Du. Các di tích chùa chiền phần nhiều ở gần làng Phù Lưu, quanh quẩn trong vòng bán kính, từ 1km dến 5km. Đường sá tuy toàn là đường đất, nhưng rất rộng và rất thuận lợi cho du khách phương xa muốn đến tham quan, thưởng ngoạn phong cảnh đầy thơ mộng tại một số thắng tích lịch sử như Đền Đô, nơi thờ 8 vị vua nhà Lý. Chúa Dận, nơi Lý Công Uẩn được sanh ra. Chùa Tiêu, hay Tiêu Sơn, tọa lạc trên một ngọn đồi, được mô tả trong tiểu thuyết dã sử “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, là sào huyệt của cặp uyên ương Trương quang Ngọc và Nhị Nương, đứng ra lãnh đaọ cuộc kháng chiến chống lại Nhà Tây Sơn, suốt một thời gian dài. Tới Núi Chè, địa danh biểu tượng trong truyện Bà Chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật, kể về bà Tuyên Phi Đặng thị Huệ. Chùa Bách Môn, chùa Phật Tích. Hoặc các địa danh nổi tiếng như Hội pháo làng Đồng Kỵ Hội Lim, hay Rừng Sặt... Riêng hội Gióng làng Phù Đổng, ở xa nhất khoảng 8 km.
Phù Lưu là một làng ở vùng thôn quê, quần tụ trong khu vực châu thổ sông Hồng. Phong tục, tập quán có nhiều điểm giống nhau, nhưng không ít cá biệt về sinh hoạt trong đời sống.
Hồi xưa, nhà cửa thưa thớt, đồng không mông quạnh còn nhiều, lại không có lũy tre xanh bao bọc, nên dù ở xa hàng cây số cũng đã mhìn thấy Phù Lưu, với những lớp nhà ngói nhấp nhô cáí cao cáí thấp, chen lẫn một số nhà lầu nổi bật trên nền trời xanh ngắt. Nhà tranh vách đất, hình ảnh tiêu biểu thân thương, ngàn đời gắn bó với người dân đồng quê, làng nào cũng có, nhưng làng Phù Lưu thì tuyệt nhiên không thấy cái nào. Cả đến hồ (1) ao, nguồn cung cấp nước dùng cho mọi sinh hoạt hằng ngày không thể thiếu đối với người dân chốn thôn quê, vậy mà trong làng Phù Lưu cũng không có. Thay vào đó, làng có rất nhiếu giếng, mà lúc nào nước cũng ở mức cố định., không lên không xuống, không bị ảnh hưởng do thời tiết hay mùa màng. Dân làng khi cần, cứ ra giếng dùng gầu kéo nước gánh về nhà. Ngoài ra, gần như nhà nào cũng xây bể( 2) để chứa nước mưa.. Nhà giàu thì xây bể lớn, nhà nghèo xây bể nhỏ. Có nhà quanh năm chỉ dùng nước mưa trong việc nấu nướng, tắm giặt, chứ không cần tới nước giếng.
Trong làng, tất cả những con đường lớn nhỏ đều được lát bằng những phiến đá xanh vuông, mỗi bề cỡ 80cm. Đường chinh giữa làng lát 4 hàng, đường nhỏ đi sâu vào các ngõ, 2 hàng. Lề đường lát gạch sát đến chân vỉa hè, phủ hết mọi khoảng đất trống, nên khi trời mưa đường vẫn rất sạch sẽ, không bị bùn dính lấm chân.

Một số hình ảnh chụp gần đây (Những tấm hình chụp ở trong làng Phù Lưu dưới đây so với trước năm 1945, không thay đổi về cấu trúc, chỉ khác chút đỉnh vì được sơn phết, tô điểm lại)

Hình Lâm Văn Sửu cung cấp

Cổng Chính (hay cổng số 1) Cổng chính nhìn từ phía trong. Dân trong làng quen gọi là “Cổng phố trên”. Từ đây, dọc theo tới cuối làng, dài khoảng 800 mét thì gặp cổng thứ 4 hay “Cổng phố dưới” (không có hình). Sở dĩ gọi “phố”, vì là con đường chính và làng chỉ có một phố duy nhất. Gọi phố trên, phố dưới, để phân biệt đầu làng với cuối làng.
Có lẽ đã từ rất lâu, không được săn sóc, quét dọn, mặt đường bị bụi che phủ làm mờ đi màu xanh nguyên thủy của đá. Hai bên hè phố, nhà xây lấn ra quá nhiều, thêm lớp đất bám thành mảng dày đặc, không được quét hốt bỏ đi, làm cho mặt đường càng bị thâu hẹp lại. Xưa kia, đường lúc nào cũng sạch, thoáng, rộng. Hai bên, cửa hàng mọc lên san sát, trải dài suốt từ đầu làng tới cuối làng, không khác gì các đường phố ở thị thành. Qua khỏi ‘’Cổng phố dưới”, gặp con đường đất dẫn tới làng Đình Bảng, cách khoảng hơn 1 cây số và Đền Đô cũng ở gần đó.
Cổng Số 2

Cổng nhìn từ phia ngoài. Cổng này cũng thuộc khu phố trên, từ ngã 3 Quốc lộ 1, góc dẫy nhà “15gian” đi vào, khoảng 300m. Qua cổng, tới một quãng chừng 150m, thì gặp phố chính.
Cách chừng 500m về phía tay phải, có con đường cũng từ ngã 3 Quốc lộ 1, góc rạp hát cũ dẫn vào làng, gặp một cổng khác (không có hình), là cổng phố dưới hay cổng số 3.
Như vậy, mặt trước làng Phù Lưu có 4 cổng: 2 cổng phố trên và 2 cổng phố dưới. (Các cổng số 1, 2, 3, 4, là do người kể tự đặt cho dễ phân biệt).
Ngoài ra, còn 3 cổng nữa ở mặt sau làng. Các cổng này xây từ hồi xưa, theo kiểu cổ, nên hẹp và thấp. Cổng nào cũng có 2 cánh cửa gỗ lim rất nặng và rất chắc chắn. Cổng được mở ra để đi tắt, tới các làng Đình Bảng, Đền Đô, làng Lã, làng Nội... chỉ qua một cánh đồng nhỏ, rút ngắn được gần 3/4 đường, so với đường chính. Cổng Tam Quan đình Phù Lưu
Đình được sửa chữa lại vào khoảng năm 1928 đến năm 1930 thì hoàn tất.Tuy hồi đó tôi còn nhỏ, nhưng có thể nhớ từ lúc khởi đầu dỡ mái đình, thay rui, mè, thay 4 cột nơi chính điện, cùng các giai đoạn kế tiếp.
Song song với việc sửa chữa đình, cổng Tam Quan cũng đã được xây cất lại bằng xi măng cốt sắt, thay thế cổng cũ xây vôi vữa. Cột được trát một lớp “granite”, tức đá mài (còn gọi đá rửa).
Dưới mái cổng chính, gắn hàng chữ nho “Phù Lưu Đình” bằng đồng thau. Câu đối gắn hai bên cột cũng bằng đồng thau. Hồi xưa, mấy hàng chữ này lúc nào cũng sáng bóng, nay thấy bị mờ, rỉ sét nhiều. Câu đối có lẽ đã bị thay thế, vì các chữ đều lộ ra có vết đục bỏ. Tôi không được biết câu đối xưa nói những gì, nhưng đọc qua mấy hàng chữ gắn sau này, thấy không hợp với phong cách, cảnh vật của ngôi đình hay nếp sống sinh hoạt của dân làng lúc bấy giờ. Ngoài ra, cổng sắt giữa và 2 bên, cũng đã bị thay, không thấy các hình chữ thọ vuông và tròn trước kia. Cổng giữa gắn chữ “TT” cùng với số 2001, mà không hiểu “TT” có nghĩa gì?
Dân gian vùng Phủ Từ Sơn và có thể khắp tỉnh Bắc Ninh, đều có nghe rao truyền câu: “Trống Chờ, chuông Chõ, mõ Phù Lưu”, để chỉ trống làng Chờ, chuông làng Chõ, mõ làng Phù Lưu có cái gì khác thường. Tôi đã thấy trống làng Chờ. Trống rất lớn so với trống thường. Hai mặt trống bịt bằng da trâu, đường kính có thể tới hơn 2 mèt. Trống được đặt trên giá gỗ bên cạnh chính điện trong đình.Có người giơ tay ướm thử xem Hình: Lâm văn Sửu cung cấp cao đến đâu, nhưng chưa với tới giữa mặt trống. Vì không phải là ngày hội nên tôi không được nghe tiếng trống kêu lớn ra sao.
Phù Lưu có một cái mõ, cũng rất lớn, dài cỡ 2 mét, đường kính đầu mõ khoảng hơn 30 centimét, hơi phình ra ở quãng giữa thân mõ và được đặt trên một cái mễ gỗ, sát đầu hồi phía trái của tiền đình. Người ta phải dùng vồ đánh vào thân mõ, nghe rất lớn, vang động khá xa. Đến nay, người trong làng nói mõ không còn nữa.